Thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

Pháp luật quy định có hai hình thức thừa kế di sản, đó là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Để hiểu rõ hơn về hai hình thức thừa kế này, mời bạn đọc cùng theo dõi bài viết dưới đây.

So sánh thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

Điểm giống nhau

 Đều là sự chuyển dịch tài sản của người đã chết cho những người còn sống. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã được hình thành thai trước khi người để lại di sản chết. Tất cả những người hưởng thừa kế đều có quyền từ chối nhận thừa kế theo Điều 620 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trong trường hợp những không có người nhận thừa kế theo di chúc và theo pháp luật đều hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sai khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước.

Về thời hiện mở thừa kế quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó”. Trong trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu (Điều 236 BLDS năm 2015), nếu không có người chiếm hữu thì di sản thuộc về Nhà nước.

Điểm khác nhau

Thứ nhất về khái niệm

Thừa kế theo di chúc là thừa kế theo ý chí nguyện vọng của người để lại di sản trước khi chết còn thừa kế theo pháp luật trong trường hợp người chết không để lại di chúc, di chúc không hợp pháp, những người thừa kế theo di chúc không còn hoặc từ chối nhận di sản tại thời điểm mới thừa kế  chia di sản theo hàng thừa kế, điều kiện, trình tự thừa kế do pháp luật quy định.

Thứ hai, về người thừa kế

Thừa kế theo di chúc: Là cá nhân, cơ quan, tổ chức được người lập di chúc đề cập là người nhận di sản trong di chúc và đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

Thừa kế theo pháp luật: Chỉ có thể là cá nhân có mối quan hệ huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng với người để lại di sản. Những người thừa kế theo pháp luật được chia thành 03 hàng thừa kế, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Thứ ba, về hình thức

Thừa kế theo di chúc: Được lập thành văn bản hoặc di chúc miệng (Điều 627 BLDS năm 2015).

Thừa kế theo pháp luật: Chỉ bằng văn bản có công chứng về việc phân chia di sản của các đồng thừa kế. Nếu có tranh chaaso về thừa kế thì theo quyết định của tòa án về phân chia di sản.

Thứ tư, trưởng hợp được thừa kế

Thừa kế theo di chúc: Theo ý chí, nguyện vọng của cá nhân khi lập di chúc, người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.

Thừa kế theo pháp luật: Được thực hiện trong trường hợp không có di chúc, di chúc không hợp pháp, những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập  di chúc, cơ quan tổ chức được hưởng thừa kế theo di chức nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Thứ năm, thừa kế thế vị

Thừa kế theo di chúc: Không có thừa kế thế vị

Thừa kế theo pháp luật: Thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652 BLDS

Thứ sáu, phân chia di sản

Thừa kế theo di chúc: Theo quy định tại Điều 659  BLDS

Thừa kế theo pháp luật: Theo quy định tại Điều 660  BLDS

Thứ bảy, thứ tự áp dụng

Thừa kế theo di chúc được ưu tiên áp dụng trước. Còn thừa kế theo pháp luật  được áp dụng khi rơi vào các trường hợp quy định tại Điều 650 BLDS năm 2015

Những quy định chung về thừa kế

Quyền thừa kế được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời: Tại Điều 609 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.

Điều 76. Quản lý tài sản riêng của con

  1. Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.
  2. Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con. Tài sản riêng của con do cha mẹ hoặc người khác quản lý được giao lại cho con khi con từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác.
  3. Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự; người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
  4. Trong trường hợp cha mẹ đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà con được giao cho người khác giám hộ thì tài sản riêng của con được giao lại cho người giám hộ quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự”.
thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật
thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

“Điều 77. Định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự

  1. Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
  2. Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ.
  3. Trong trường hợp con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì việc định đoạt tài sản riêng của con do người giám hộ thực hiện”.

Điều 630: Di chúc hợp pháp

Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng”.

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”.

Theo quy định tại Điều 663 Bộ luật dân sự năm 2015 thì quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;

+ Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

+ Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.

Từ quy định trên có thể xây dựng một số trường hợp thừa kế tài sản có yếu tố nước ngoài như sau:

– Người để lại tài sản là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước.

– Người thừa kế tài sản là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước.

-Tài sản thừa kế ở nước ngoài.

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm. 

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0967 741 035
Tư Vấn Online
Gọi: 0967 741 035