Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế

thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế

Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là khoảng thời gian mà pháp luật cho phép những người được hưởng thừa kế yêu cầu chia di sản mà người thân để lại. Giữa di sản là động sản và bất động sản sẽ có thời hiệu yêu cầu chia khác nhau. Vậy thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bao lâu, sự khác nhau về thời hiệu yêu cầu chia di sản giữa BLDS 2005 và BLDS 2015 là gì, mời bạn đọc cùng theo dõi bài viết dưới đây.

Những điểm mới về thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế

Kéo dài thời hiệu đối với di sản là bất động sản

Nhược điểm của BLDS 2005: Điều 645 BLDS 2005 quy định thời hiệu yêu cầu Tòa án chia di sản là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Quy định này được áp dụng chung cho mọi loại tài sản là di sản do người chết để lại. Việc quy định thời hạn 10 năm để yêu cầu chia di sản có nhiều bất cập:

Thứ nhất, việc áp đặt thời hiệu 10 năm buộc những người thừa kế phải chia di sản trong thời hạn này nếu muốn được sự bảo trợ của tòa án. Đây là điểm bất thường của pháp luật Việt Nam vì di sản thực chất là tài sản chung của những người thừa kế và vì đã là tài sản chung của những người thừa kế thì không có lý do gì buộc họ phải chia nếu họ không muốn.

Thứ hai, với thời hạn 10 năm này, thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản được đánh giá là quá ngắn. Bởi lẽ, phong tục, truyền thống của người Việt Nam thường không chia di sản ngay mà thời gian lâu sau mới có nhu cầu phân chia, nên dẫn đến rất nhiều tranh chấp phân chia di sản trong thực tiễn hết thời hiệu khởi kiện, đặc biệt là tranh chấp liên quan đến di sản là quyền sử dụng đất và nhà ở.

Sự thay đổi trong BLDS 2015: Trước hai loại bất cập trên đã hình thành hai luồng quan điểm là bỏ quy định về thời hiệu yêu cầu chia di sản hoặc kéo dài thời hiệu. Cuối cùng, BLDS 2015 đã theo phương án thứ hai. Cụ thể, Điều 623 BLDS 2015 quy định “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế”. Ở đây, BLDS 2015 vẫn duy trì tư duy của các Bộ luật trước là cần có thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản. Điểm mới của BLDS 2015 là đã chia khối di sản thành hai phần là động sản và bất động sản để xác định thời hiệu. Đối với động sản, so với BLDS 2005, BLDS 2015 không có sự thay đổi là vẫn áp dụng thời hiệu 10 năm, còn đối với di sản là bất động sản, BLDS 2015 đã kéo dài thời hiệu từ 10 năm thành 30 năm.

Tác động của sự thay đổi: Điểm tích cực của BLDS 2015 là kéo dài thời hiệu đối với bất động sản. Đây là điểm tích cực vì tạo cơ hội cho người thừa kế có thể khởi kiện nhờ Tòa án giải quyết tranh chấp về phân chia di sản trong thời hạn được dài hơn. Tuy nhiên, hướng của quy định mới cũng còn nhược điểm.

Thứ nhất, vẫn như BLDS 2005, BLDS 2015 duy trì thời hiệu yêu cầu chia di sản nên những bất cập từ việc áp đặt thời hiệu yêu cầu chia di sản trong một thời hạn nhất định vẫn tồn tại. Cụ thể, với quy định áp đặt thời hiệu yêu cầu chia di sản, chúng ta vẫn buộc những người thừa kế phải phân chia di sản trong một thời gian nhất định nên hạn chế quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế được Hiến pháp bảo hộ208. Suy cho cùng thì di sản thừa kế cũng chính là tài sản chung của những người thừa kế kể từ thời điểm mở thừa kế. Và do vậy, việc áp đặt thời hiệu cho yêu cầu chia di sản còn mâu thuẫn với quy định của chính BLDS 2015 về quản lý (Điều 216), sử dụng (Điều 217), định đoạt (Điều 218) và chia tài sản chung (Điều 219) khi không tồn tại quy định nào trong BLDS 2015 buộc các chủ sở hữu tài sản chung phải phân chia tài sản chung trong một thời hạn nhất định.

Thứ hai, việc phân chia tài sản là động sản hay bất động sản không xa lạ ở Việt Nam cũng như thế giới nhưng phân biệt như vậy để xác định thời hiệu yêu cầu chia di sản quả thực là bất thường và chắc chắn trong tương lai sẽ làm phát sinh tranh chấp về tài sản nào là động sản, tài sản nào là bất động sản. Việc phân loại thời hiệu theo loại tài sản còn làm phát sinh một bất cập mới, không tồn tại trong BLDS 2005. Đó là người thừa kế có thể phải chia di sản thành hai lần, vì tình huống có thể phát sinh là những người thừa kế chưa muốn chia di sản là bất động sản ngay, nhưng họ vẫn phải tiến hành chia di sản là động sản trước vì thời hiệu ngắn hơn và kết thúc trước (10 năm), sau đó họ mới tiến hành chia di sản là bất động sản. Cách quy định này bề ngoài tưởng chừng phù hợp vì phân loại thời hiệu theo giá trị và sự phức tạp của tài sản, nhưng thực ra lại bất hợp lý vì gây ra tình huống không cần thiết trong việc phân chia di sản, khi cùng một khối di sản nhưng thời điểm phân chia phải diễn ra hai lần và thời gian có thể cách xa nhau.

Hệ quả của hết thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế

Phân biệt các trường hợp: Vì BLDS 2015 vẫn giữ tư tưởng là có thời hiệu yêu cầu chia di sản nên vấn đề hệ quả của hết thời hiệu được đặt ra.

Khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản, người thừa kế mất quyền yêu cầu Tòa án chia di sản. Vấn đề tiếp theo là số phận di sản hết thời hiệu được xử lý như thế nào? Một điểm mới nổi bật của BLDS 2015 so với BLDS 2005 là bổ sung quy định giải quyết hệ quả khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản. Cụ thể, trong BLDS 2005 (và cả BLDS 1995 trước đây) đều chỉ quy định về thời hạn để khởi kiện yêu cầu phân chia di sản, nhưng lại không có quy định nào giải quyết hệ quả pháp lý phát sinh khi hết thời hiệu.

Về phía mình, BLDS 2015 xử lý hệ quả của hết thời hiệu bằng cách phân biệt các trường hợp: Khi hết thời hiệu có người thừa kế đang quản lý di sản và khi hết thời hiệu không có người thừa kế đang quản lý di sản (trong trường hợp này, còn phân biệt trường hợp có người chiếm hữu hay không)

thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế
thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế

Áp dụng quy định mới về thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế

Từ ngày 1/1/2017: Theo Điều 689 BLDS 2015, “Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017”.

Do đó, nếu người để lại di sản được xác định là chết trong ngày 1 1 2017 hay sau ngày này thì đương nhiên các quy định mới về thời hiệu trong BLDS 2015 được áp dụng và lúc này thời hiệu yêu cầu chia di sản đối với bất động sản là 30 năm, thời hiệu yêu cầu chia di sản đối với động sản là 10 năm kể từ thời điểm người để lại di sản chết.

Nếu người để lại di sản chết trước thời điểm trên (tức trước ngày 1/1/2017), các quy định mới về thời hiệu có được áp dụng không? Để hiểu rõ hơn, chúng ta lấy một ví  dụ (ví dụ thứ hai) là A chết vào ngày 1/4/2005 và một trong những người con của A yêu cầu Tòa án chia di sản là bất động sản (do không có sự thống nhất với những người thừa kế khác).

Trước ngày 1/1/2017: Nếu áp dụng BLDS 2005, yêu cầu chia di sản trên đã hết thời hiệu sau ngày 1/4/2015. Tuy nhiên, nếu áp dụng BLDS 2015, thời hiệu yêu cầu chia di sản trên vẫn còn vì thời hiệu là 30 năm kể từ ngày 1/4/2005 và thời hiệu chỉ hết sau ngày  1/4/2035. Vậy, có áp dụng BLDS 2015 để giải quyết tình huống vừa nêu (tức chết trước ngày 1 1 2017) không? Đây là câu hỏi rất quan trọng cần có câu trả lời, vì việc còn hay hết thời hiệu ảnh hưởng rất lớn đến quyền, lợi ích của các chủ thể có liên quan.

Khi ban hành BLDS 1995 và BLDS 2005, Quốc hội có ban hành Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật dân sự. Khi thông qua BLDS 2015, Quốc hội không ban hành Nghị quyết áp dụng nhưng có điều luật về Điều khoản chuyển tiếp. Đó là Điều 688 và trong điều luật này có quy định về thời hiệu rất đáng quan tâm. Cụ thể, theo điểm d khoản 1 Điều 688, “đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau: Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này”.  Quy định này áp dụng cho  “giao dịch  dân sự”  được xác lập trước ngày 1/1/2017 nhưng thừa kế có được hiểu là “giao dịch dân sự” trong quy định vừa nêu không? Nếu là thừa kế theo di chúc thì đương nhiên là thừa kế theo giao dịch dân sự vì di chúc là một giao dịch dân sự nên quy định về thời hiệu của BLDS 2015 được áp dụng.

Nếu thừa kế không theo di chúc (tức thừa kế theo pháp luật) thì phải xử lý như thế nào? Trước đây, Ủy ban thường vụ Quốc hội có ban hành Nghị quyết số 58/1998/NQ – UBTVQH10vàNghịquyếtsố1037/2006/NQ-UBTVQH11 về giao dịch dân sự về nhà ở. Ở cả hai Nghị quyết này đều có quy định về thời hiệu yêu cầu chia di sản và “thừa kế nhà ở” đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết nên “thừa kế nhà ở” đã được coi là giao dịch dân sự. Luật nhà ở năm 2014 cũng coi “thừa kế” nói chung là một dạng giao dịch tại Điều 117. Trong thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân tối cao cũng áp dụng quy định về thời hiệu trong Nghị quyết trên cho cả thừa kế về nhà ở mà người để lại di sản không có di chúc (tức thừa kế theo pháp luật). Điều đó có nghĩa là các quy định về thời hiệu áp dụng cho giao dịch dân sự cũng được áp dụng cho thừa kế, cho dù là thừa kế theo di chúc hay thừa kế theo pháp luật. Hướng giải quyết này là thuyết phục để có sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật (nếu áp dụng quy định về thời hiệu cho thừa kế theo di chúc mà không áp dụng quy định này cho thừa kế theo pháp luật thì sẽ dẫn tới sự không thống nhất và phát sinh nhiều phức tạp không đáng có). Từ đó, chúng ta có thể khẳng  định điểm d khoản 1 Điều 688 nêu trên của BLDS 2015 cũng được áp dụng cho thừa kế, cho dù đó là thừa kế theo pháp luật.

Kể từ ngày 1/1/2017, BLDS 2015 khẳng định “thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này” nên, dựa vào phân tích ở trên, quy định mới về thời hiệu trong BLDS 2015 sẽ áp dụng cho các tranh chấp về yêu cầu chia di sản tại Tòa án từ ngày trên mà không phụ thuộc vào ngày mở thừa kế là ngày nào. Hướng này phù hợp với tinh thần sửa đổi các quy định về thời hiệu vì, khi tiến hành chỉnh lý Dự thảo BLDS tại Quốc hội, tinh thần chung là áp dụng ngay các quy định về thời hiệu (được kéo dài so với BLDS 2005) với chủ trương quy định có lợi cho người dân thì áp dụng ngay. Hướng như vừa nêu là thuyết phục. Bởi lẽ, thời hiệu được sinh ra không chỉ để ổn định các quan hệ pháp luật trong đời sống mà còn có ý nghĩa hỗ trợ cho các chủ thể được thực hiện các quyền của mình do luật định. Nên việc áp dụng hồi tố thời hiệu chia di sản của BLDS 2015 mang lại lợi ích tốt nhất cho các chủ thể có liên quan trong các tranh chấp về chia di sản, tạo cơ hội cho Tòa án giải quyết tranh chấp cũng như có thể xử lý di sản một cách triệt để, không làm cho di sản trong tình trạng hết thời hiệu gây lãng phí cho xã hội.

Ngoài ra, khoản 2 Điều 688 BLDS 2015 còn quy định “không áp dụng Bộ luật này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ việc mà Tòa án đã giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự trước ngày Bộ luật này có hiệu lực”. Quy định này chỉ cấm áp dụng các quy định mới về thời hiệu trong BLDS 2015 để giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ việc đã được Tòa án giải quyết. Điều đó có nghĩa là vẫn có thể phúc thẩm bản án sơ thẩm đối với vụ việc đã được Tòa án giải quyết trên cơ sở các quy định mới của BLDS 2015. Với quy định này, trong ví dụ thứ hai ở trên, khi người thừa kế yêu cầu chia di sản của ông A sau ngày 1/1/2017 ở cấp sơ thẩm cũng như ở cấp phúc thẩm thì thời hiệu yêu cầu chia di sản vẫn áp dụng các quy định về thời hiệu trong BLDS 2015 (30 năm đối với di sản là bất động sản).

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm. 

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0967 741 035
Tư Vấn Online
Gọi: 0967 741 035