Nghị quyết hướng dẫn tội cố ý gây thương tích

nghị quyết hướng dẫn tội cố ý gây thương tích

Tội cố ý gây thương tích là một trong những hành vi nguy hiểm cho hiện hội hiện nay với những mức độ nghiêm trọng khác nhau. Để có thể phân tích rõ và tránh trường hợp áp dụng sai các quy định của BLHS về tội cố ý gây thương tích, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành các nghị quyết hướng dẫn tội cố ý gây thương tích. Dưới đây là những nội dung phân tích nghị quyết, mong bạn đọc cùng theo dõi.

Cố ý gây thương tích là gì?

Cố ý gây thương tích là hành vi cố ý xâm phạm thân thể, gây tổn hại cho sức khoẻ người khác dưới dạng thương tích cụ thể. Hành vi cố ý gây thương tích là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khoẻ của người khác.

Quy định về tội cố ý gây thương tích

Đối với Tội cố ý gây thương tích người khác:

– Khách thể: Xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

– Khách quan:

  • Hành vi: Có khả năng gây ra thương tích; hoặc tổn thương khác gây tổn hại sức khoẻ của người khác. Có thể thông qua các công cụ; phương tiện hoặc súc vật hoặc cơ thể của người khác; …
  • Hậu quả: Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% trở lên; hoặc thấp hơn 11% (nhưng phải thuộc các trường hợp luật định.

– Chủ quan: Lỗi cố ý

Hình phạt:

– Người nào cố ý gây thương tích; hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm; hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau; hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ; tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng; hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích; hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích ;hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích; hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích; hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích; hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên; nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

– Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích; hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm; hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Đối với Tội cố ý gây thương tích người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh:

Đây là hình thức giảm nhẹ của tội cố ý gây thương tích với hai đặc điểm khác biệt:

  • Chủ thể thực hiện: Trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó; hoặc đối với người thân thích của người đó;
  • Hậu quả: Tỷ lệ tổn thương từ 31% trở lên.

Đối với Tội cố ý gây thương tích người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội:

Đây là hình thức giảm nhẹ của tội cố ý gây thương tích với hai đặc điểm khác biệt:

  • Chủ thể thực hiện: Động cơ phòng vệ; hoặc động cơ bắt giữ người phạm tội nhưng đã vượt quá giới hạn cho phép của pháp luật;
  • Hậu quả: Tỷ lệ tổn thương từ 31% trở lên.

Đối với Tội gây thương tích người khác trong khi thi hành công vụ:

Là trường hợp khi thi hành công vụ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép gây thương tích; hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép.

nghị quyết hướng dẫn tội cố ý gây thương tích
nghị quyết hướng dẫn tội cố ý gây thương tích

Hiện tại chỉ có 02 Nghị quyết hướng dẫn về các tội cố ý gây thương tích là Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP; và Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP.

Tuy nhiên vào ngày 08/10/2021 Tòa án nhân dân tối cao đã ra Quyết định số 355/QĐ-TANDTC về việc công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ thuộc lĩnh vực của Tòa án nhân dân tối cao. Kể từ đó Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP; và Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP sẽ chính thức hết hiệu lực hướng dẫn về các tội cố ý gây thương tích.

Nhưng do hiện tại vẫn chưa có những hướng dẫn thay thế cho 02 Nghị quyết trên; cho nên khi giải quyết vụ việc về Tội cố ý gây thương tích chúng ta có thể áp dụng tinh thần của Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP; và Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP vào vụ việc giải quyết của mình.

Nội dung của Nghị quyết hướng dẫn tội cố ý gây thương tích:

Tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm”:

“Vũ khí” là một trong các loại vũ khí được quy định tại khoản 1 Điều 1 Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ).

“Phương tiện nguy hiểm” là công cụ; dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên; mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công.

– Về công cụ, dụng cụ

Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn…

– Về vật mà người phạm tội chế tạo ra

Ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ…

– Về vật có sẵn trong tự nhiên

Ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt…

Tình tiết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người”:

Là trường hợp cố ý gây thương tích; hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người từ hai lần trở lên hoặc của hai người trở lên (có thể một lần, có thể nhiều lần đối với mỗi người) và trong các lần đó chưa có lần nào bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu xử lý hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tình tiết “đối với thầy giáo, cô giáo của mình”:

– Chỉ áp dụng tình tiết “đối với thầy giáo, cô giáo của mình” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 104 của BLHS để xét xử bị cáo gây thương tích từ 11- 30%; hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp luật định khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

  • Nạn nhân phải là thầy giáo, cô giáo tức là người đã; hoặc đang làm công tác giảng dạy theo biên chế hoặc theo hợp đồng tại cơ quan, tổ chức có chức năng giáo dục, đào tạo, dạy nghề được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;
  • Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân là vì lý do thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, dạy nghề của họ đối với bị cáo, không phân biệt nhiệm vụ đó đã được thực hiện hay đang được thực hiện và không kể thời gian dài hay ngắn;
  • Tỷ lệ thương tật của nạn nhân dưới 11%.

– Chỉ áp dụng tình tiết “đối với thầy giáo, cô giáo của mình” để xét xử bị cáo gây thương tích từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%; khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

  • Các điều kiện được hướng dẫn tại các điểm a.1 và a.2 tiểu mục 3.3 này;
  • Tỷ lệ thương tật của nạn nhân từ 11% đến 30%.

– Chỉ áp dụng tình tiết “đối với thầy giáo; cô giáo của mình” để xét xử bị cáo gây thương tích từ từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60% khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

  • Các điều kiện được hướng dẫn tại các điểm a.1 và a.2 tiểu mục 3.3 này;
  • Tỷ lệ thương tật của nạn nhân từ 31% đến 60%.

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về tội cố ý gây thương tích điều 104. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về tội cố ý gây thương tích điều 104 và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm. 

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0967 741 035
Tư Vấn Online
Gọi: 0967 741 035