Cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê

cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê

Cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê là vấn đề nóng trong xã hội hiện nay khi mà pháp luật đã cấm kinh doanh dịch vụ này. Kinh doanh dịch vụ đòi nợ là ngành nghề nhạy cảm với nhiều hành vi bất hợp pháp nên pháp luật có những quy định nghiêm ngặt đối với ngành nghề này. Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày những thông tin về cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê, mong bạn đọc cùng theo dõi.

Thế nào là kinh doanh dịch vụ đòi nợ?

Căn cứ pháp lý

Đòi nợ thuê là một ngành dịch vụ đòi nợ, là việc cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, tập đoàn, công ty thực hiện một hành vi đòi nợ con nợ theo yêu cầu của chủ nợ.

Dịch vụ đòi nợ thuê được pháp luật thừa nhận, bảo vệ và được quy định ở Nghị định 104/2007/NĐ-CP.

Theo Nghị định 104/2007 về kinh doanh dịch vụ đòi nợ quy định về điều kiện hành nghề kinh doanh đòi nợ rất chặt chẽ. Theo đó nội dung hoạt động dịch vụ đòi nợ gồm:

– Đại diện chủ nợ để xác định các khoản nợ, các nội dung liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách nợ; đôn đốc khách nợ trả nợ; thu nợ.

– Đại diện chủ nợ làm việc với tổ chức hoặc cá nhân có liên quan để thu nợ.

– Đại diện khách nợ để xác định các khoản nợ, biện pháp xử lý nợ với chủ nợ.

– Tư vấn pháp luật cho chủ nợ hoặc khách nợ về việc xác định nợ; biện pháp, quy trình, thủ tục xử lý nợ.

Về nguyên tắc chỉ những doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ đòi nợ mới được phép hoạt động dịch vụ đòi nợ. Thực tế hiện nay, ngoài các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ thì còn có nhiều hình thức khác để thu hồi nợ.

Thứ nhất, cá nhân, tổ chức có thể thu hồi nợ bằng con đường hòa giải, đàm phán, thương lượng. Hình thức hòa giải hiện nay đã được rất nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh.

Thứ hai là chủ nợ có thể tìm đến các văn phòng, công ty luật uy tín để được tư vấn pháp luật cho chủ nợ hoặc khách nợ về việc xác định nợ, các biện pháp thu hồi, quy trình, thủ tục xử lý nợ.

Hình thức thứ ba chủ nợ có thể khởi kiện ra tòa án có thẩm quyền theo quy định pháp luật.

CĂN CỨ PHÁP LÝ

– Luật Đầu tư 2020;

– Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

– Bộ luật Dân sự 2015;

– Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

– Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

DỊCH VỤ ĐÒI NỢ THUÊ CHÍNH THỨC BỊ CẤM

Đòi nợ thuê là một ngành dịch vụ đòi nợ, là việc những doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ đòi nợ thực hiện một hành vi đòi nợ khách nợ theo yêu cầu của chủ nợ.

Trước đây, dịch vụ đòi nợ thuê là một trong các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, kể từ khi Luật Đầu tư năm 2020 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021, thì dịch vụ đòi nợ thuê thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh tại điểm h khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư năm 2020. Đồng thời, tại khoản 5 Điều 77 Luật Đầu tư năm 2020 cũng quy định như sau:

Hợp đồng cung cấp dịch vụ đòi nợ ký kết trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chấm dứt hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành; các bên tham gia hợp đồng được thực hiện các hoạt động để thanh lý hợp đồng cung cấp dịch vụ đòi nợ theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Theo đó, dịch vụ đòi nợ thuê chính thức “khai tử”, các Hợp đồng cung cấp dịch vụ đòi nợ được ký kết trước ngày 01/01/2021 phải thanh lý, doanh nghiệp đang được cấp phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ có thể giải thể hoặc phải chuyển đổi sang ngành nghề kinh doanh khác.

Nguyên nhân dẫn đến cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê

Thứ nhất, trong quá trình hoạt động kinh doanh, nhiều Doanh nghiệp đòi nợ thuê không tuân thủ điều kiện kinh doanh cũng như quy định pháp luật có liên quan làm phát sinh nhiều hệ quả tiêu cực như:

Khủng bố bằng chất bẩn

Phá hoại tài sản

Có hành vi đe dọa, trấn áp, khủng bố tinh thần gây hoang mang cho con nợ…

Thứ hai, thời gian qua có một số doanh nghiệp đòi nợ biến tướng ảnh hưởng đến xã hội và đây là lý do dẫn đến Quốc hội cấm ngành nghề này hoạt động.

XỬ PHẠT ĐỐI VỚI HÀNH VI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ ĐÒI NỢ THUÊ

Nếu kinh doanh dịch vụ thuộc danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh thì sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 7 Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng như sau:

Điều 7. Hành vi kinh doanh dịch vụ thuộc danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh

  1. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với hành vi kinh doanh dịch vụ thuộc danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh.
  2. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này.

  1. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này”.

Như đã phân tích ở trên, kể từ ngày 01/01/2021, nếu doanh nghiệp vẫn tiếp tục hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ thì có thể bị phạt nặng lên đến 160 triệu đồng, đồng thời buộc nộp lợi ích vật chất bất hợp pháp thu được do thực hiện hành vi vi phạm. Hành vi vi phạm hành chính do tổ chức thực hiện thì phạt tiền gấp hai lần mức phạt tiền quy định đối với cá nhân.

CÁCH ĐÒI NỢ MÀ KHÔNG CẦN ĐẾN DỊCH VỤ ĐÒI NỢ

Hiện nay trên thực tế có rất nhiều hình thức vay mượn tiền, tài sản khác nhau nhưng chung quy lại xét về mặt bản chất, việc cho vay sẽ tồn tại dưới dạng hợp đồng vay tài sản (có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản).

Tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Như vậy, việc bên vay “phải hoàn trả” tài sản là nghĩa vụ mang tính bắt buộc đối với bên cho vay.

Theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 thì:

– Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

– Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

– Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

– Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

– Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê
cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê

Từ những phân tích trên, có thể đòi nợ bằng những cách thức sau:

Khởi kiện ra Toà án

Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

Việc chậm trả của bên vay là căn cứ cho thấy quyền, lợi ích hợp pháp của bên cho vay đã bị xâm phạm, theo đó có thể nộp đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền. Trong hồ sơ cần nộp những căn cứ chứng minh mình có quyền hợp pháp với số tiền mà bên vay đang nợ.

Đối với phương án này, người đòi nợ cần lưu ý một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, thời hiệu khởi kiện yêu giải quyết tranh chấp hợp đồng vay là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Thứ hai, thời gian giải quyết tranh chấp có thể kéo dài qua các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, lúc này nếu phát hiện “con nợ” có dấu hiệu tẩu tán tài sản, khi khởi kiện tùy tình hình thực tế mà chủ nợ có thể yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc đồng thời các biện pháp sau:

– Kê biên tài sản đang tranh chấp.

– Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.

– Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước.

– Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ.

– Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.

Tố giác tội phạm đến cơ quan công an có thẩm quyền

Nếu bên vay có hành vi gian dối ngay từ khi thực hiện giao dịch hoặc có hành vi tẩu tán tài sản, vay tiền sau đó bỏ trốn… nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng khoản vay vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả nợ thì hành vi của người đó có dấu hiệu tội phạm về các tội tại Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 như:

– Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174)

– Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175)

Trong trường hợp này, người cho vay cần làm đơn tố giác gửi cơ quan điều tra, đề nghị điều tra, xử lý người vay đồng thời giải quyết vấn đề trả nợ vay theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. 

Luật Đầu tư năm 2020 quy định cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê là đúng đắn và phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Việc thu hồi nợ không chỉ phát sinh từ các hoạt đồng vay nợ (tiền) thuần túy mà còn có thể xuất phát từ rất nhiều các giao dịch dân sự và kinh doanh – thương mại khác (mua bán hàng hóa, …). Do đó, việc luật sư tham gia tư vấn, hỗ trợ pháp lý từ đầu, ngay từ giai đoạn đàm phán, giao kết hợp đồng là điều rất hữu ích, đặc biệt là đối với những hợp đồng có giá trị lớn. Với kiến thức và kinh nghiệm pháp lý của mình, luật sư sẽ giúp cho các tổ chức, cá nhân biết và hiểu đầy đủ, chính xác các quy định của pháp luật, cũng như có những sự tư vấn kịp thời, chính xác, đảm bảo cho họ sự chặt chẽ, an toàn về pháp lý.

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về thông tin cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm. 

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775